Áp dụng hóa đơn điện tử ở Việt Nam và một số kiến nghị

Chứng từ điện tử và thanh toán điện tử trong công tác kế toán được coi là một cấu phần quan trọng của thương mại điện tử. Nguồn: Internet

Áp dụng hóa đơn điện tử ở Việt Nam và một số kiến nghị

ThS. Phạm Thị Thu Hồng

 

Trước xu thế mở rộng và phát triển thương mại điện tử trên thế giới, Việt Nam đang hướng đến thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thương mại. Chứng từ điện tử và thanh toán điện tử trong công tác kế toán được coi là một cấu phần quan trọng của thương mại điện tử.

Hóa đơn điện tử ưu việt, vì sao doanh nghiệp vẫn “né”?

Hướng dẫn thực hiện hóa đơn điện tử theo Nghị định số 119/2018/NĐ-CP

Thực hiện hóa đơn điện tử nâng cao hiệu quả công tác kế toán doanh nghiệp

Hoàn thành việc áp dụng hóa đơn điện tử vào năm 2020

Vì vậy, việc triển khai hóa đơn điện tử và hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế đã, đang và sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cả doanh nghiệp, khách hàng và cơ quan Thuế. Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng hóa đơn điện tử của Việt Nam thời gian qua, đưa ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy sử dụng hóa đơn điện tử trong thời gian tới.

Những chuyển biến căn bản trong áp dụng hóa đơn điện tử

Thời gian qua, Tổng cục Thuế đã đẩy nhanh áp dụng hóa đơn điện tử (HĐĐT) và HĐĐT có mã xác thực và đạt được những kết quả tích cực như sau:

Thứ nhất, các quy định pháp lý về HĐĐT về cơ bản được hoàn thiện và bổ sung trong thời gian qua. Theo đó, phạm vi áp dụng, đối tượng áp dụng và định nghĩa cũng như phân loại về HĐĐT cũng được làm rõ trong văn bản pháp lý. Nghị định số 119/2018/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 12/9/2018 quy định về HĐĐT khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ có hiệu lực từ 01/11/2018 đã có những quy định chi tiết về phạm vi, đối tượng áp dụng HĐĐT: Phạm vi áp dụng là việc sử dụng HĐĐT khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; đối tượng áp dụng là tổ chức, doanh nghiệp (DN), cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.

Thứ hai, việc áp dụng HĐĐT góp phần cải cách thủ tục hành chính, nâng cao trách nhiệm của cơ quan thuế thông qua việc chuyển đổi phương thức phát hành, quản lý hóa đơn của DN. Trước đây, các DN mới thành lập phải mua hóa đơn của cơ quan Thuế, sau một thời gian hoạt động cơ quan thuế kiểm tra đáp ứng các điều kiện nhất định mới được tự in (đặt in hóa đơn để sử dụng) và Tổng cục thuế tập trung đặt in hóa đơn để chuyển các Cục thuế bán cho các DN (theo Nghị định 89/2002/NĐ-CP thì sau khi Nghị định số 51/2010/NĐ-CP và Nghị định số 04 về hóa đơn được ban hành thì phương thức phát hành, quản lý hóa đơn của DN đã được chuyển đổi từ cơ chế “mua hóa đơn của cơ quan thuế” sang cơ chế “DN tự đặt in, tự in hóa đơn” để sử dụng và chuyển đổi phương thức quản lý hóa đơn (giấy) của cơ quan thuế bằng việc giao cho Cục Thuế các địa phương đặt in hóa đơn bán cho các tổ chức, cá nhân không phải là DN nhưng có hoạt động kinh doanh. Như vậy, quyền và trách nhiệm về hóa đơn cho các DN đã được quy định rõ hơn, góp phần cải cách thủ tục hành chính, nâng cao trách nhiệm của cơ quan thuế địa phương trong công tác quản lý hóa đơn.

Thứ ba, việc triển khai áp dụng HĐĐT và thí điểm áp dụng HĐĐT có mã xác thực của cơ quan thuế đã góp phần giảm thời gian, chi phí về hoá đơn cho DN, hạn chế các hành vi gian lận về hoá đơn; làm giảm thời gian làm thủ tục hành chính thuế. Cụ thể, việc sử dụng HĐĐT có mã xác thực giúp DN cắt giảm thời gian đăng ký sử dụng hóa đơn từ 5 ngày xuống còn tối đa 3 ngày; bỏ được thủ tục đăng ký mẫu hóa đơn; rút ngắn thời gian thực hiện thông báo phát hành (DN được sử dụng ngay hóa đơn khi thực hiện đăng ký thành công), DN không phải báo cáo tình hình sử dụng HĐĐT có mã xác thực cho cơ quan thuế dẫn đến không xảy ra tình trạng nộp chậm trễ báo cáo và không bị xử lý phạt cho việc không nộp hoặc nộp chậm báo cáo.

Theo ước tính sơ bộ của Tổng cục Thuế, mỗi năm sử dụng trên 4 tỷ hóa đơn giấy. Ước tính chi phí để in 1 hóa đơn giấy là khoảng trên 1.000 đồng/hóa đơn. Như vậy, với số lượng 4 tỷ hóa đơn/năm, thì chi phí mỗi năm bỏ ra để in hóa đơn lên đến trên dưới 4.000 tỷ đồng. Trong khi đó, nếu sử dụng HĐĐT, số tiền mà DN có thể tiết kiệm được khoảng 3.000 tỷ đồng/năm.

Thứ tư, số lượng DN sử dụng hóa đơn và số hóa đơn sử dụng qua các năm có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Số lượng DN sử dụng hóa đơn đặt in tăng từ 382.938 DN năm 2012 lên 659.940 DN năm 2017, số lượng DN sử dụng hóa đơn tự in nhìn chung có xu hướng giảm trong giai đoạn 2012-2015, từ 13.901 DN năm 2012 xuống 11.417 năm 2015 DN, sau đó lại tăng lên 14.503 DN năm 2017. Số lượng DN sử dụng HĐĐT tăng lên nhanh chóng từ 44 DN năm 2012 lên 5.245 DN năm 2017. Số lượng HĐĐT tăng từ 158.141 hóa đơn năm 2012 lên 601 triệu hóa đơn năm 2017, đây là con số ấn tượng cho thấy, việc sử dụng HĐĐT đã được thúc đẩy và phát triển.

Tỷ trọng HĐĐT trong tổng số hóa đơn được sử dụng trong giai đoạn 2012 – 2017 tăng dần qua các năm, từ 0,003% năm 2012 lên 12,97% năm 2017. Số lượng DN sử dụng HĐĐT có mã xác thực của cơ quan thuế và số lượng HĐĐT có mã xác thực sử dụng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Trong thời gian đầu thực hiện thí điểm HĐĐT có mã xác thực của cơ quan thuế tại 2 TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, số lượng DN sử dụng HĐĐT có mã của cơ quan thuế tăng lên (Hà Nội: tăng từ 67 DN năm 2015 lên 102 DN năm 2017; TP. Hồ Chí Minh: tăng từ 100 DN năm 2015 lên 116 DN năm 2017) và số lượng HĐĐT đã được cấp mã xác thực cũng tăng lên nhanh chóng.

Một số tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc áp dụng HĐĐT vẫn còn gặp một số khó khăn, thách thức như:

Thứ nhất, khung pháp lý cho HĐĐT chưa thực sự đầy đủ cho việc triển khai rộng rãi, phổ biến áp dụng, nhất là trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế đã có sự chuyển biến rõ rệt so với các năm trước. Cụ thể là chưa có quy định về HĐĐT và định dạng chuẩn dữ liệu trong Luật Quản lý thuế.

Thứ hai, với việc sử dụng hoá đơn giấy còn khá phổ biến nên một số đối tượng lợi dụng sự thông thoáng của Luật DN trong thủ tục thành lập DN để thành lập nhiều DN, hoặc mua lại DN, thực tế không kinh doanh nhưng được sử dụng hóa đơn, xuất hóa đơn khống, sử dụng hóa đơn lòng vòng để khấu trừ, hoàn khống thuế giá trị gia tăng hoặc rút tiền thanh toán từ ngân sách nhà nước, hoặc không kê khai nộp thuế để trốn thuế.

Thứ ba, số lượng HĐĐT mặc dù có tăng lên theo thời gian và tỷ trọng số lượng HĐĐT so với tổng số hóa đơn (giấy + HĐĐT) tăng từ 0,0029% năm 2012 lên 12,972% năm 2017, nhưng HĐĐT vẫn chưa thực sự được áp dụng rộng rãi.

(theo tapchitaichinh.vn)

Lượt xem: 335 | | Danh mục: Kế toán